Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Tiết lộ chấn động về thuốc Tây Y và phương pháp điều trị ung thư

      
       Để mở đầu bài viết xin trích dẫn câu nói khá nổi tiếng ” Ngàn lần nói sai thành chân lý”, đa số chúng ta khi sinh ra tới khi chết đi nếu bạn không tinh ý bạn sẽ bị dẫn dắt bởi giáo dục, truyền thông đang hàng ngày “tẩy não” chúng ta một cách hết sức tinh vi và có hệ thống.
         Tây Y (Western medecine) đã tiến bộ và phát triển mạnh mẽ trong khoảng 100 năm trở lại đây, Bên cạnh những thành tựu xuất sắc, đặc biệt của các trị liệu bằng phẫu thuật, vi phẫu thuật, đặt implant, thay ghép tạng, sử dụng tế bào mầm v.v…người ta nhận ra là vẫn có một bộ phận của Tây Y trở nên ì ạch không phát triển gì nhiều. Đó là sự tồn đọng của nhiều bệnh (thường gặp) mà nguyên nhân vẫn còn không được biết rõ! Và vì thế, những trị liệu hiện nay chỉ có tính cách trị triệu chứng (symptom relief) hoặc trị liệu tạm thời (palliative care). Ví dụ bệnh suyễn, bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh vảy nến, bệnh vảy cá (ichthyosis) v.v và v.v…nhất là Tây Y chưa giải quyết được một bệnh ác tính đang tăng nhanh trong thời đại này, đó là bệnh ung thư.
Khi nhìn về y học cổ truyền, thì người ta lại nhận ra rằng y học cổ truyền đã thất lạc mất rồi. Dù đã được phục hồi phần nào trong thời gian gần đây nhưng nền y học cổ truyền đã bị thất lạc rất nhiều kiến thức mà nó đã xây dựng qua hàng ngàn thế kỷ! Điều đáng sợ, là không phải nền y học cổ truyền tự nó suy tàn, mà nó đã bị “bức tử” trong đầu thế kỷ 20.
          Có thông tin cho rằng chính giới tài phiệt của nước Mỹ, vì cạnh tranh, đã tiêu diệt nền y học cổ truyền với mục đích kiếm lợi!
          Dĩ nhiên một người sáng suốt sẽ không quá khích (như những người chủ trương thuyết âm mưu) cho rằng nền Tây Y là không giá trị. Ngược lại, phải thấy rõ cái vĩ đại mà ngành Y bây giờ đã đạt được trong thời gian ngắn khoảng 100 năm trở lại đây. Phải thấy biết ơn những gì mà giới tư bản đã đóng góp cho các trường Y trên thế giới, giúp ngành Y có được những thành tựu như ngày nay.
          Nhưng, không vì thế, mà ta không biết một chút về mặt trái của tư bản, của cái gọi là Quỹ Rockefeller.Cục quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ- FDA
“Vấn đề của các hệ thống y tế là nó được điều hành bởi các nhà tài phiệt để phục vụ cho các mục đích tài chính. Nó chẳng sinh lợi gì trừ khi có người bị bệnh, do đó toàn bộ hệ thống y tế được thiết kế để làm con người càng ngày càng bệnh tật nhiều hơn.”
(Tiến sĩ bác sĩ Guylain Lanctor, tác giả của ‘The Medical Mafia: How to Get Out of It Alive and Take Back Our Health & Wealth’ )
           Việc tẩy não quần chúng được ngành Dược được bắt đầu rất sớm.
“Ai nắm giữ quá khứ sẽ kiểm soát tương lai. Ai nắm giữ hiện tại sẽ tóm gọn quá khứ” phải có sự hiểu biết cặn kẽ về Cục Quản lý Thuốc và Thực Phẩm Hoa Kỳ (US FDA), nhất là về những cộng sự và lịch sử tăm tối của Cục - (George Orwell’s in "Nineteen eighty four") Cục quản lý thuốc và thực phẩm (F.D.A) lúc mới bắt đầu thành lập chỉ là một ban quản lý hóa chất (Division of Chemistry), thời gian sau được gọi là Cục quản lý hóa chất (Bureau of Chemistry), mãi về sau mới đổi tên thành F.D.A.. Cái tên đã được thay đổi nhằm che dấu các dự án hóa chất công nghiệp. Cơ quan này cấp cho các công ty tư cách pháp lý để đưa hóa chất vào thực phẩm và giúp các hãng dược phẩm bằng cách chứng nhận “được FDA chấp thuận”. Người dân sẽ không có bằng chứng pháp lý nào để chống lại ngành công nghiệp hóa chất được.
Công việc thực sự của nó đã và đang làm là “thông qua” hoặc “xử phạt” những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp hóa chất. Và với quyền lực này, nó che dấu một cách hợp pháp cho những hóa chất trong ngành công nghiệp, bằng cách tuyên bố …cái gì mới là “an toàn”.
          Nó đều đặn chia sẻ những dữ liệu được bảo mật với các nghiệp đoàn hóa học cộng sự, để làm giảm nhẹ trách nhiệm. Ví dụ, những thông tin ô nhiễm mà họ đã ém nhẹm trước công chúng. Đây là những vấn đề thuộc “quan hệ công chúng”
Mô hình F.D.A hiện đại hơn được tiến hành vào năm 1913—trong cùng một thời điểm thành lập ra quỹ Rockefeller. Tay nắm tay, FDA – Quỹ Rockefeller và Hiệp hội y tế Hoa Kỳ (AMA) cùng nhau hoạt động sát cánh.
           Quỹ Rockefeller được thành lập vào năm 1913, với mục đích trọng yếu là nhắm vào lãnh vực y học và đào tạo y khoa. Tài trợ ban đầu của Rockefeller cho trường y đạt trên 550.000.000 dollar. Chỉ trong năm 1928, Quỹ Rockefeller đã tài trợ tiền cho 18 trường Y trên khắp 14 quốc gia. Từ đó, những cộng sự của Rockefeller tại FDA đã bắt đầu thúc đẩy cuộc cạnh tranh khốc liệt với tất cả các loại thuốc nào được coi là “đối lập” với ngành công nghiệp hóa chất.
          “Tôi sẽ không đời nào công nhận mọi loại thuốc mới nào, trừ phi loại thuốc ấy đến từ một hãng dược khổng lồ với những nguồn tài chính vô hạn. “ - Tiến sĩ Richard J.Crout, giám đốc của cục quản lý thuốc của FDA (Spotlight, 18 tháng 1, 1982)
Các loại thảo dược bị đàn áp là tất cả thứ mà FDA không thể kiểm soát, và khống chế bằng các tấm bằng sáng chế (patent). Thuốc từ tự nhiên sẽ chẳng bao giờ có thể được cấp bằng sáng chế cả! Đó là lý do tại sao tất cả các liệu pháp thiên nhiên và không gây độc hại hiển nhiên trở thành “thuốc bịp bơm” theo cách gọi của FDA, của ngành công nghiệp hóa chất, và của ngành y! Ngược lại chỉ có những hóa chất trái với tự nhiên (như phi hữu cơ và chất độc ) là có thể được cấp bằng sáng chế, và những loại thuốc không chứa độc tố được xem là một mối đe dọa trong việc kinh doanh thuốc.
“FDA bảo vệ các tập đoàn dược phẩm lớn, sau đó được nhận lại sự khen thưởng. FDA sử dụng quyền lực của chính phủ, họ tấn công những ai gây nguy hại cho các hãng dược lớn. Người dân nghĩ rằng FDA đang bảo vệ họ. Nhưng không phải thế!. Những gì mà FDA đang làm và những gì mà người dân tưởng như vậy, thực sự hoàn toàn trái ngược như ngày với đêm.” (Tiến sĩ Herbert Ley, cựu thành viên hội đồng của FDA)
“Vào năm 1919, việc Rockefeller trao tặng một số trường y ở Canada 5.000.000 dollar đã góp phần tạo nên nền giáo dục y khoa Canada đến tận thế kỷ 20.
               Y học thời đó làm gì có cái thị trường sinh ra lợi lộc như bây giờ, thế nên các trường y đã phải nương nhờ vào các khoản viện trợ của Rockefeller (dành cho những trường đào tạo đạt yêu cầu). Ngành Y nhận tài trợ và chấp nhận điều kiện của Rockefeller là phải tuân thủ các quy định:
         - Một là, từ bỏ các thể loại y học cổ truyền thống và các dược liệu tự nhiên, thay vào đó là một thế hệ mới các sản phẩm thuốc từ các dẫn xuất hóa học.
        - Hai là phải xóa bỏ toàn bộ nền y học của quá khứ. Điều gì đã xảy ra để khơi mào cho nạn đốt sách ở khắp nơi? Trong một vài trường hợp, chính FDA đã thiêu hủy sách. Quả là một thời kỳ gian nan cho các bác sĩ theo truyền thống trị liệu tự nhiên (traditional naturalpathic)
         Nhà tài phiệt Rockefeller.Tất cả những ai bất đồng chính kiến, cố nắm giữ quá khứ, có quan điểm tổng quan (holistic), dùng các liệu pháp thiên nhiên để chữa bệnh, từ nay sẽ được xem như bị quỷ ám, một dạng “lang băm” đối với hệ thống đào tạo y khoa chính quy, dù cho đó có là những “lang băm” từng đoạt giải Nobel y học, và kết quả thu được sâu rộng đến chừng nào.…
          Có các vitamin hay sữa tươi có thể thực sự tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều đó có nghĩa là có khi chỉ cần thực dưỡng mà chẳng cần phải có các bác sĩ với những phương pháp chữa bệnh nào nữa. Thực dưỡng như vậy là bất hợp pháp, dù bằng cách này hay cách khác, vì chẳng có một phương pháp thực dưỡng nào được “chấp thuận” cả.
          Đã có một mối quan hệ bất chính được hình thành giữa hiệp hội Y học Hoa Kỳ, FDA, và Quỹ Rockefeller. Để đảm bảo sự tuân thủ hợp đồng của các trường Y, quỹ Rockefeller thường xuyên nhấn mạnh các trường Y phải đặt nhân viên của Quỹ Rockefeller vào ban giám đốc điều hành.
          Hệ thống pháp lý mới củng cố sự độc quyền của ngành Y, cùng với sự độc quyền ở lĩnh vực công nghiệp hóa dầu của Rockefeller trong quá khứ. Thay vì chỉ sở hữu tất cả các nguồn dầu khí, đế chế Rockefeller hiện nay đã kiểm soát hầu hết tất cả các loại thuốc men tiêu dùng. Nó sở hữu vị chúa sơn lâm, được gọi là “công nghiệp dược phẩm”, mà trước đây là ngành công nghiệp hóa chất. Lại một lần nữa, thuốc men sẽ được kiểm soát và điều chế để chống lại người dân Mỹ. Hệ thống từ đó phân nhánh vươn ra trên toàn thế giới.
           Suốt cả cuộc đời, ngài John D. Rockefeller đã từ chối uống loại thuốc thế hệ mới! Trái lại, cả đời ngài lại sử dụng những phương pháp có tính toàn diện của y học truyền thống cho mục đích sức khỏe của chính mình. Nhiều người bạn của ngài tại FDA và AMA cũng cùng một kiểu như thế.
           Sau khi Rockefeller cưỡng chiếm các trường Y, thì các bệnh chết người như bại liệt- tim- và ung thư thực sự bùng phát.
            Từng có một chuyên gia u não chiễm trệ trong phòng khách của tôi bảo với tôi rằng, anh ta sẽ chẳng bao giờ xạ trị, nếu như chẳng may bị u não đi nữa. Và tôi hỏi anh ta rằng, “thế chẳng phải anh vẫn chuyển người ta đến khu xạ trị sao?” anh ta điềm nhiên trả lời “ phải thế thôi, nếu không tôi sẽ bị tống cổ khỏi bệnh viện” (Tiến sĩ, bác sĩ Ralph Moss.)
            Nếu mắc bệnh ung thư thì: 90% bác sĩ ung thư học (oncologist) sẽ không bao giờ chấp nhận chiếu xạ cho ung thư phổi. 84% sẽ không chấp nhận hóa trị cho ung thư đại tràng. Nghiên cứu của đại học Harvard được công bố tại viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ : “Có sự khác biệt về sự thuận tình chấp nhận các liệu pháp kháng ung thư của các bác sĩ chuyên khoa ung thư khi chính họ bị bệnh”Xạ trị, hóa trị những điều bạn chưa biết:
          - Liệu pháp hóa trị và xạ trị được cho là phương pháp điều trị ung thư khoa học nhất. Tuy nhiên, những con số khoa học đó chẳng ăn khớp gì với nhau.
          - 100% quá trình điều trị đều độc hại.Tính trung bình, Liệu pháp hóa trị và xạ trị chỉ có hiệu quả 4-5% trong cả một quá trình phục hồi dai dẳng.Cụm từ ‘điều trị thành công’ được các bác sĩ chuyên khoa ung thư và y văn định nghĩa, tức là không có các khối u (chẳng có tí dính dáng gì đến ung thư) trong vòng 5 năm, và họ tiếp tục đếm con số bệnh nhân ‘sống sót’, dù cho 6 năm sau là những người này có chết đi chăng nữa, những con số này tiếp tục được họ xào nấu thành tỷ lệ chữa bệnh của mình. Đây là một trong những cách mà khoa học điều chế cho ra đúng thuốc khớp với những con số của mình.
           “Những nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng, những bệnh nhận ung thư không điều trị sống lâu hơn gấp 4 lần những bệnh nhân điều trị. Đối với các loại ung thư điển hình, thì người từ chối điều trị có thể sống giao động trong vòng từ nửa năm đến 12 năm. Còn những ai chấp nhận phẫu thuật, hay các phương pháp trị liệu khác [hóa trị, xạ trị, cobalt] chỉ có một mức trung bình là 3 năm.” (Tiến sĩ Hardin Jones, bộ môn sinh lý học, đại học California, Berkeley).
            Tất cả những phương pháp điều trị hạt nhân và hóa trị được biết là căn nguyên gây ra và di căn ung thư. Những phương pháp vô lý này được gọi là “biết được mặt trái của hiệu quả”. Động thái sàng lọc để phân loại ung thư cũng cùng một kiểu với phương pháp điều trị, đưa ra càng nhiều trường hợp bệnh nhân nhiễm phóng xạ và các độc chất công nghiệp càng tốt. Đây là lý do mà con số mắc bệnh ung thư vú bùng phát cùng với sư gia tăng những thử nghiệm chụp nhũ ảnh.
              Trường hợp tử vong do điều trị (tử vong do bác sĩ điều trị) đứng thứ 3 trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Mỹ trích từ thống kê riêng của các tổ chức y tế. Cái chết bởi thầy thuốc bình thường tới nỗi người ta đã gói gọn nó trong một từ ‘iatrogenic’(do thầy thuốc). Các cô gái phải trải qua hóa và xạ trị phải đối diện với nguy cơ 35% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú vào độ tuổi 40, 75% là điều này sẽ xảy ra cao hơn cái mức trung bình 35% kia. Bức xạ quang tuyến vú cũng sản sinh ra các loại ung thư, đặc biệt là ở vùng ngực.
             “Một nghiên cứu với hơn 10.000 bệnh nhân cho thấy rõ ràng rằng chỉ định hóa trị mạnh cho chứng Hodgkin (u hạch bạch huyết) được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án thực là trò lừa bịp. Những bệnh nhân trải qua hóa trị, có hơn 14% phát triển các bện bạch cầu và hơn 6% phát triển ung thư các cơ xương khớp gấp nhiều lần những bệnh nhân không phải trải qua hóa trị liệu" (Tiến sĩ-Bác Sĩ y khoa John Diamond}
Tiến sĩ Ewan Cameran, đã 2 lần thắng Linus Pauling ở giải Nobel tại Scotland (mà nghiên cứu của Linus sau này đã được nhân rộng trên các nghiên cứu tại Canada và Nhật Bản), bằng nghiên cứu so sánh giữa việc điều trị vitamin C với hóa trị liệu.
Đoán thử xem, nhóm bệnh nhân này sẽ sống dai hơn thời gian trung bình của các bệnh nhân ung thư là bao lâu? Và số bệnh nhân trong nhóm này là bao nhiêu?
Vitamin C giúp kéo dài tuổi thọ trung bình của các bệnh nhân ung thư lên gấp 6 lần, và đương nhiên cũng làm chất lượng đời sống của họ tốt hơn. Có một sự khác biệt so với thực tế là Vitamin C tăng cường hệ thống miễn dịch, thay vì làm suy yếu nó hơn như hóa trị đã làm.
                “Là một nhà hóa học được đào tạo để giải thích dữ liệu, thông tin này khiến tôi khó mà chấp nhận rằng các bác sĩ đã bác bỏ bằng chứng rõ ràng rằng càng hóa trị bao nhiêu, càng hại nhiều hơn là lợi.” – TIến sĩ Alan Nixon, cựu chủ tịch của hiệp hội hóa học Hoa Kỳ.
                Bệnh nhân ung thư đều có nguy cơ tử vong do nhiễm trùng máu bất kỳ lúc nào, điều đó là hiển nhiên vì hóa trị liệu đã phá hủy hoàn toàn hệ thống miễn dịch của bệnh nhân, và do đó vi khuẩn đã từ đó dễ dàng xâm nhập và giết chết bệnh nhân. Thông thường thì những trường hợp như thế này lại được tính là “tử vong do nhiễm trùng máu” thay vì là tử vong do ung thư. Đó là một phương cách khác để hội đồng y tế thao túng các số liệu thống kê về sự an toàn và hiệu quả của hóa trị và xạ trị liệu pháp.
Các công ty hóa chất đã tạo ra vấn đề, để họ có thể kinh doanh trên chúng ta bằng giải pháp của riêng họ. Các giải pháp phòng tránh mà họ nói chỉ đơn giản là không để lộ ra thứ chất độc mà họ đang kinh doanh.
                   Tiếng nói của họ vô cùng mạnh mẽ trên các kênh truyền thông đại chúng, cho nên họ mặc nhiên có thể đổ lỗi những bệnh tật đã gây ra cho chúng ta là do mặt trời. Chứng thiếu hụt vitamin D rất là phổ biến hiện nay, chứng minh rằng mọi người đã không nhận được đủ ánh sáng mặt trời.
                   Thời gian trung bình đã dự kiến để chữa bệnh thường được kéo dài thêm 4% trên tổng số quá trình (đó là chưa tính trong vòng 5 năm trở lại đây họ đã dung những tinh đồn để gian lận các thông số chữa trị)
                    Vì vậy, với lượng độc tố trong các “phương pháp điều trị quy chuẩn”, thì có khoảng 96% khả năng là phương pháp điều trị sẽ giết bạn, nhiều hơn là căn bệnh ung thư sẽ giết chết bạn. Ngay từ khi còn là sinh viên các bác sĩ đã nhận quà của Big Pharma, càng về sau sự nghiệp thì những món quà này càng lớn hơn.
Các bác sĩ chuyên khoa khác chỉ đơn giản là viết toa thuốc, nhưng riêng bác sĩ chuyên khoa ung bướu (trị ung thư) có lợi nhuận cao hầu nhờ mua sỉ các loại thuốc chống ung thư trên thị trường, và bán chúng cho bệnh nhân với giá trên trời. Họ cho bệnh nhân biết rằng những người này sẽ chết nếu không có thuốc.
(NBC Nightly News story- Các bác sĩ khoa ung thư thu lợi nhuận từ các thuốc hóa trị liệu. )
                      “Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở đất nước này chết vì hóa trị. Liệu pháp hóa trị không trị hết ung thư vú, ung thư đại tràng hay ung thư phổi. Sự thực này đã được ghi nhận trong hơn một thập kỷ qua, nhưng các bác sĩ vẫn áp dụng hóa trị đối với những khối u loại này. Nữ giới bị ung thư vú có nguy cơ chết nhanh hơn là không có hóa trị.” (Bác sĩ y khoa Alan Levin).
                     “Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (The American Cancer Society) đã cố gắng hủy đi nền tảng nghiên cứu của tôi”. (Tiến sĩ Albert Szent-Gyorgyi, người nghiên cứu những đột phá của vitamin C, người chiến thắng giải Nobel Y học năm 1937 ). ​Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ – The American Cancer Society. Bạn đoán thử xem tổ chức này được thành lập khi nào và và bởi ai ?
                     Tổ chức này được thành lập bởi John. D. Rockefeller Jr., trong năm 1931 màu nhiệm, cùng với thời điểm khi ngài “hiến tặng” tài sản cho đại học Havard. Bạn có tin rằng một ngày đẹp trời nào đó, họ sẽ công bố phương pháp chữa lành bệnh ung thư, và vứt bỏ chiếc xe tải chất hàng đống tiền của mình không? Và bạn sẽ hiểu tại sao vitamin C lại đe dọa đến sứ mệnh của họ?
                     Chúng ta được giáo dục để tin vào “kỳ tích” của hóa dược hiện đại, là vượt trội hơn so với các loại thảo dược truyền thống. Nhưng, cái mà họ không đề cập đến là khoảng từ 50-70% thành phần hóa học của thuốc hiện đại được trích từ các thành phần thảo dược. Chính các hợp chất hữu cơ ấy là lý do tại sao một số loại hóa dược đôi khi lại có hiệu quả!
                      Theo ghi nhận của ủy ban điều tra dân số Hoa Kỳ, ung thư là sát thủ đứng thứ 2 ở nước Mỹ, nhưng hầu hết những ca tử vong là do phương pháp điều trị, chứ không phải do bệnh ung thư. Các loại dược phẩm là kẻ giết người đứng thứ 4. Nước Mỹ sở hữu một hệ thống y tế nguy hiểm và đắt tiền nhất thế giới. Hệ thống này tạo ra 60% tất cả các vụ phá sản tại nước Mỹ.
                      “Không chỉ có một, mà còn rất là nhiều những phương pháp chữa trị cho bệnh ung thư. Nhưng tất cả những phương pháp còn lại đều bị ACS, NCI và các trung tâm ung thư lớn đàn áp. Bởi hiện tại họ đang có quá nhiều lợi nhuận trong chuyện này”.
(Tiến sĩ, bác sĩ y khoa, tác giả của “chế độ ăn kiêng Atkins”.)  Sưu tầm

Kính gửi quý vị
        Xin cám ơn rất nhiều về tài liệu quý giá về FDA-Rockfeller etc Tôi có nói chuyện này với các bạn người Pháp, họ muốn đọc tài liệu này bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, xin quý vị làm ơn gửi cho tôi bản Pháp ngữ hoặc Anh ngữ.
Tại Pháp có cuốn sách của Claire Séverac đề cập về vấn đề này : Complot mondial contre la santé (âm mưu toàn cầu chống sức khỏe)
http://info-resistance.org/livres/co...ntre-la-sante/ nhưng bản tiếng Việt của quý vị chuyển có nhiều chi tiết quan trọng mà sách của Claire Séverac không nhắc đến
Xin cám ơn trước
                                                                                           Nguyễn Đình Nhân


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Tỏi rất tốt, tỏi mầm còn tốt hơn




            Theo kinh nghiệm miệng truyền tai, có lẽ bạn sẽ vứt những củ tỏi đi ngay khi thấy chúng mọc mầm xanh. Tuy nhiên từ nay bạn sẽ cần không làm như thế nữa, bởi vì theo các nhà nghiên cứu khoa học thì những củ tỏi mới mọc mầm này lại chứa nhiều chất dinh dưỡng quý giá hơn tỏi tươi.
        
           Từ hàng nghìn năm nay, tỏi đã được xem là một thực phẩm-dược phẩm quý với rất nhiều công dụng, ví dụ như phòng chống các bệnh tim mạch, cao huyết áp, hạ cholesterol, tăng sức đề kháng nói chung, chữa bệnh yếu sinh lý, trị cảm cúm, đau răng, chữa mụn, chống ung thư… Đó là trên các loại tỏi thông thường.
           Không có nhiều nghiên cứu thực hiện trên tỏi mọc mầm, nhưng kết quả thu được thì cũng rất ngạc nhiên. Trên các củ tỏi đã mọc mầm, hàm lượng các hoạt tính chống oxi hóa còn vượt trội hơn. Chiết xuất từ loại tỏi này thậm chí có thể bảo vệ tế bào tránh khỏi một số loại tổn thương. Các kết quả thú vị này đã được nhóm nghiên cứu Hàn Quốc công bố trên tạp chí Agriculture & Chemistry (1).
           Theo dõi sự phát triển của mầm tỏi qua các ngày khác nhau, các tác giả nhận thấy ở tỏi mọc mầm được 5 ngày là tốt hơn hẳn. Như vậy chắc chắn trong quá trình nảy mầm, có những thay đổi đã diễn ra, nhiều cơ chế được hoạt hóa. Kết quả là nhiều chất mang hoạt tính được tạo mới, bao gồm các chất có thể bảo vệ cái mầm non chống lại bệnh tật trong môi trường sống mới lạ.
           Trong hạt/củ nảy nầm, một số chất dinh dưỡng có thể tăng lên gấp 30 lần so với bình thường, giúp cơ thể bạn sử dụng các vitamin, khoáng, axit amin và axit béo từ các thực phẩm ăn vào một cách hiệu quả hơn. Do đó, một số chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn hãy làm món tỏi mọc mầm nếu bạn có một góc vườn nhỏ.
              

                                                                      Mạnh Lạc (tredeponline)

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Stress có trực tiếp gây bệnh ung thư?



        Không chỉ gây ra bệnh tim mạch, dạ dày, phổi, thậm chí stress gây ung thư mà ta không nghờ tới.
   
         Căng thẳng là một phần của cuộc sống và bạn cần sáng suốt xử lý chúng để không ảnh hưởng đến sức khỏe. Có nghiên cứu cho thấy, stress gây hàng loạt bệnh từ tim mạch cho đến các loại ung thư nguy hiểm. Hiện chưa tìm thấy nguyên nhân trực tiếp gây ung thư, song giới nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan rõ ràng giữa bệnh ung thư và căng thẳng trong cuộc sống.
      Nhà nghiên cứu nổi tiếng - Tiến sĩ Dean Ornish, MD, người đã dành 20 năm để nghiên cứu hậu quả của stress với sức khỏe cơ thể người nói rằng, giảm stress có thể ngăn ngừa ung thư và tim mạch. Ông cũng tìm thấy, bệnh nhân ung thư vú sẽ kéo dài thời gian sống trên đời của mình nếu như họ tham gia vào các nhóm hỗ trợ tâm thần học.
      Một nghiên cứu khác chỉ rõ hơn rằng, phụ nữ trải qua những việc đau buồn trong cuộc sống hoặc chịu mất mát trong quá khứ có khả năng ung thư vú cao hơn những người phụ nữ có cuộc sống viên mãn. Như vậy, áp lực, căng thẳng sẽ khiến vết thương lâu lành và thời gian sản xuất các tế bào miễn dịch cũng chậm hơn.
      Qua những nghiên cứu này, giới khoa học rút ra kết luận, stress chỉ làm giảm khả năng miễn dịch, dẫn đến cơ thể không chống đỡ được tế bào ung thư. Mỗi ngày, cơ thể tiếp xúc với rất nhiều tác nhân gây bệnh trong không khí, nước, thực phẩm... Thông thường, hệ thống miễn dịch sẽ nhận ra những tế bào bất thường và tiêu diệt chúng trước khi chúng tạo thành khối u.
        Có 3 giai đoạn cơ thể ngăn ngừa khối u: Hệ thống miễn dịch ngăn chặn tế bào lạ, DNA tự sửa chữa và tế bào khỏe mạnh tiêu diệt tế bào ung thư.Trong trường hợp này, stress sẽ góp phần làm giảm khả năng ngăn cản cơ thể thực hiện 3 bước, chứ nó không phải nguyên nhân trực tiếp gây ung thư. Tất cả những nghiên cứu cung cấp yếu tố stress liên quan đến ung thư chỉ như giọt nước tràn ly chứ đây không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thay đổi và phát triển của hệ thống miễn dịch.
         Có thể nói rằng, một phần căng thẳng có thể dẫn đến ung thư. Áp lực gây ra hậu quả mọi người ăn nhiều thực phẩm không lành mạnh, ngừng tập thể dục, bắt đầu hút thuốc. Tất cả những yếu tố này rút ngắn con đường đến ung thư hơn.
         Có thể, stress là nguyên nhân gián tiếp thúc đẩy bệnh ung thư. Bạn không thể thay đổi gen di truyền nhưng lại có thể thay đổi phản ứng khi bị stress để nó không kéo bệnh tình nặng thêm. Stress không bao giờ thoát khỏi cuộc sống của bạn, do vậy bạn luôn phải đặt nó trong tầm kiểm soát bằng những bài thể dục, phương pháp trị liệu ...

                                                                          Mi Trần (psychcentral)(kienthuc)


Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Những dấu hiệu của bệnh ung thư


          Theo một báo cáo mới của Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư Anh công bố trên tạp chí British Journal of Cancer thì cứ mỗi hai người sẽ có một người phát triển ung thư trong cuộc đời của họ. Con số này cao hơn so với ước tính trước đây. Tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở nam giới tăng từ 38.5% nơi lớp người sinh năm 1930 đến 53.5% nơi những người sinh năm 1960. Đối với phụ nữ thì mức gia tăng ung thư chậm hơn, tăng từ 36.7% đến 47.5%.

          Trong khi đó Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ cho biết Hoa Kỳ cũng có số liệu tương tự như vậy. Mặc dù vấn đề chăm sóc sức khỏe được cải thiện - ví dụ ở Anh, các nhà nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân ung thư sống sót tăng gấp đôi trong 40 năm qua - nhưng có sự gia tăng bệnh tật ở người lớn tuổi. Peter Sesieni, Phó Giám Đốc Trung Tâm Phòng Chống Ung Thư tại Đại Học Queen Mary ở London nói rằng ung thư là căn bệnh chính của tuổi già, hơn 60% trường hợp chẩn đoán bệnh là ở những người trên 65 tuổi và nếu một người sống càng lâu thì một lúc nào đó sẽ mắc bệnh ung thư.
         Các nhà nghiên cứu yêu cầu việc hướng dẫn phòng chống ung thư là rất cần thiết. Có nhiều thứ chúng ta có thể làm để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, chẳng hạn như bỏ thuốc lá, hoạt động nhiều hơn, uống ít rượu và giữ trọng lượng cơ thể ở mức lành mạnh. Hầu hết các nhà chuyên môn đều đồng ý rằng bệnh nhân luôn có cơ hội để đánh bại căn bệnh của mình trong giai đoạn đầu mới mắc phải. Tuy nhiên, nhiều người vẫn thờ ơ và bỏ qua các triệu chứng.
          Sau đây là những dấu hiệu thông thường của ung thư dựa theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư ở Anh.

Những dấu hiệu ung thư ở nam và nữ:
- Khối u bất thường hay sưng bất cứ nơi nào trên cơ thể của bạn
- Thay đổi kích thước, hình dáng hay màu sắc của một nốt ruồi
- Vết loét không lành sau vài tuần
- Lở miệng hoặc lưỡi hơn 3 tuần
- Ho hoặc mất giọng hơn 3 tuần
- Khó nuốt hoặc khó tiêu kéo dài
- Gặp khó khăn khi đi tiểu
- Máu trong phân hoặc nước tiểu
- Có sự thay đổi trong việc đi vệ sinh nhiều lần trong ngày và kéo dài hơn 4 đến 6 tuần
- Giảm cân không rõ nguyên nhân hoặc đổ mồ hôi nhiều ban đêm
- Đau hoặc nhức mỏi không rõ nguyên nhân kéo dài hơn 4 tuần
- Khó thở
- Ho ra máu

Dấu hiệu ung thư ở phụ nữ:

- Một sự thay đổi khác thường ở ngực
- Chảy máu âm đạo sau khi mãn kinh hoặc giữa kỳ kinh nguyệt
- Đầy hơi liên tục
          Chúng ta không nên quá lo sợ về những triệu chứng kể trên bởi vì chúng có thể là một trong những dấu hiệu của những căn bệnh thông thường khác. Do đó, đừng bao giờ tự đoán bệnh, cách tốt nhất là gặp bác sĩ để được chẩn đoán sớm và điều trị chính xác.







Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Bí Quyết giúp Ngăn Ngừa, Điều Trị và Chiến Thắng Bệnh Tiểu Đường

        Với nền văn minh công nghệ ngày càng tiên tiến, bệnh tiểu đường được gọi là ” bệnh của người giàu”, đang dần làm xói mòn sức khỏe con người. Từ những trẻ em 7 tuổi đến trung niên, người cao tuổi, đều có khả năng vì những thói quen sinh hoạt không tốt mà bị vướng vào bệnh tiểu đường từ lúc nào không biết.
        Một khi đã mắc bệnh tiểu đường liền bắt buộc sẽ phải làm bạn với thuốc cả đời, vì vậy người người đều sợ căn ” bệnh của người giàu” này. Thật ra, phần lớn bệnh tiểu đường đều có thể được ngăn chặn, các chuyên gia cho rằng “95% những người bị bệnh tiểu đường đã thuộc tiểu đường type 2 ( trước đây gọi là bệnh tiểu đường của người thành niên), chủ yếu là do lối sống không lành mạnh và các yếu tố di truyền”.
       Phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh là cách tốt nhất để đối phó với bệnh tiểu đường, đó mới là không mắc bệnh. Bốn thế hệ hành nghề y học cổ truyền Trung Hoa tại Mỹ, bang Maryland ( Rockville ), tại phòng khám và điều trị của mình, bác sĩ Tạ Trưởng Hồng tin rằng thực phẩm chính là phương thuốc tốt nhất, đó là cốt lõi trong công tác phòng chống bệnh tiểu đường. Ông nói ” bệnh từ miệng vào, hầu hết các bệnh nhân đều do “ăn” mà sinh bệnh. Bác sĩ tốt nhất là chính mình, bệnh viện tốt nhất là nhà bếp, và thuốc uống tốt nhất chính là thức ăn.”

Bệnh tiểu đường đã đến giới hạn không kiểm soát được
      Tại sao số lượng bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường lại đi đến bước không thể kiểm soát được? Gần đây một tạp chí Mỹ đã giải đáp và cho ra câu trả lời, bởi vì hầu hết mọi người không học cách kiểm soát lượng đường trong máu ngay trong cuộc sống hàng ngày của họ. Thật ra, trong cuộc sống hàng ngày chỉ cần bạn tuân theo 11 bí quyết này mà thực hiện, điều đó sẽ có thể giúp bạn sẽ không mắc bệnh tiểu đường trong cả cuộc đời.

Bí quyết 1: Ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ
      Trong một nghiên cứu về nguy cơ mắc bệnh tiểu đường được thực hiện tiến hành đối với phụ nữ ở Thượng Hải -Trung Quốc, đã thấy rằng nếu như con người tiêu thụ hàng ngày 50g gạo lứt thay cho gạo trắng, điều đó sẽ giúp làm giảm 16% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
      Điều này được hiểu rằng ngũ cốc có chứa hemicellulose và cellulose, carbohydrate có một tác dụng ức chế rất mạnh sự hấp thụ glucose, do đó có thể ức chế được sự tăng đường huyết sau khi ăn. Vì vậy các chuyên gia khuyên rằng nên chọn ngũ cốc có nhãn “chất xơ ” trên bao bì.

Bí quyết 2: Uống hai muỗng giấm trước khi ăn thịt
       Nghiên cứu tại trường đại học Mỹ phát hiện ra rằng nếu uống 2 muỗng (thìa) giấm trước khi ăn thức ăn béo và uống các loại thực phẩm giàu năng lượng khác, thì có thể làm giảm lượng đường trong máu cực lớn. Nếu như bạn không có thói quen uống giấm, có thể đổi uống trực tiếp bằng cách cho lượng giấm vào salad để ăn.

Bí quyết 3: Quế có thể làm giảm lượng đường trong máu
       Nghiên cứu theo dõi và quan sát tại Đức trong vòng 4 tháng đã cho thấy, quế có thể làm giảm lượng đường trong máu lên đến 10%. Nó có chứa một lượng lớn các chất phytochemical polyphenol, có thể tăng cường sự nhạy cảm của tế bào với insulin, cải thiện sự trao đổi chất glucose,và cuối cùng đạt được một sự cân bằng lượng đường trong máu. Thông thường trong khi nấu ăn hoặc pha chế nước trái cây chúng ta có thể thêm 1/4 thìa bột quế, nhưng đừng nên ăn quá nhiều để tránh hỏa nhiệt.

Bí quyết 4 : Không ăn thức ăn nhanh (fast food)
        Nghiên cứu ở Mỹ đã phát hiện ra rằng ăn thức ăn nhanh mỗi tuần từ 2 lần trở lên, tuyến tụy sẽ tiết ra chỉ một nửa lượng insulin thiết yếu. Với thị trường tràn ngập đồ ăn với nhiều chất béo, hàm lượng đường cao, đồ ăn chế biến sẵn hay các đồ ăn vặt đã trở thành một loại thức ăn hay được sử dụng dành cho trẻ em. Báo cáo “Tập san sự trao đổi chất của các tế bào” đã chỉ ra rằng, đồng hồ sinh học của con người và sự trao đổi chất trong cơ thể là một hệ thống kết hợp hoạt động chung, các loại thực phẩm nhiều chất béo có thể làm nhiễu loạn đồng hồ sinh học của con người, gây ra một loạt các phản ứng ảnh hưởng đến nhiều chức năng trao đổi chất, qua đó thúc đẩy sự phát triển của bệnh tiểu đường và béo phì.

Bí quyết 5: Thư giãn để giảm bớt căng thẳng
        Áp lực sẽ khiến cho người bệnh tăng cao lượng đường huyết trong máu, vì vậy cần có thời gian thích hợp và kịp thời để thư giãn và giảm bớt căng thẳng. Tiến sĩ Richard (Richard Surwit) – chủ nhiệm khoa tâm lý học thuộc Đại học y khoa Duke đã chỉ ra rằng, khi có áp lực, cơ thể con người sẽ đi vào trạng thái được gọi là “chiến đấu hoặc chạy trốn”, lượng đường trong máu tăng cao để sẵn sàng đối phó với bất kỳ hành động nào. Nếu tại thời điểm này các tế bào không thể hấp thụ insulin, lượng đường trong máu sẽ bị tích tụ lại, đồng thời trong thời gian lâu sẽ khiến lượng đường trong máu tăng lên. Ngoài việc dành thời gian nghỉ ngơi ra, các chuyên gia khuyên rằng trước khi làm bất cứ điều gì thì tốt nhất nên hít thở 3 lần thật chậm và sâu trước tiên sẽ giúp giảm áp lực.

Bí quyết 6: Cố gắng ăn ít thịt đỏ
       Trong một nghiên cứu của Trung tâm Y tế Brigham (Brigham và bệnh viện phụ nữ) được thực hiện với 3 vạn 7 nghìn phụ nữ đã chỉ ra, đối với những người một tuần ăn 5 lần thịt đỏ so với người ăn không đến 1 lần mỗi tuần thì xác suất những người ăn thịt đỏ nhiều hơn sẽ dễ mắc bệnh tiểu đường type 2 tăng 29%.

Bí quyết 7 : Thời gian ngủ vừa phải
       Nghiên cứu Đại học Yale đối với 1709 nam giới đã chỉ ra rằng với những người ngủ ít hơn sáu giờ một ngày, xác suất mắc bệnh tiểu đường sẽ tăng 2 lần, nhưng nếu ngủ nhiều hơn tám giờ mỗi ngày thì xác suất cũng sẽ tăng gấp 3 lần. Trợ lý giáo sư Y khoa thuộc khoa nội – khoang ngực Đại học Yale, Tiến sĩ Klar Yaggi đã đề cập đối với những phụ nữ đang ngủ quá ít hoặc quá nhiều có thể dẫn đến hệ thống thần kinh ở trong trạng thái cảnh báo, và can thiệp vào sự kiểm soát nội tiết tố của lượng đường trong máu.

Bí quyết 8 : Giảm 5% trọng lượng
         Các chuyên gia cho rằng ngay cả khi bạn đang rất béo phì, nhưng chỉ cần bạn có thể giảm 5% cân nặng, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường sẽ có thể giảm tới 70%.

Bí quyết 9 : Cố gắng không để sống một mình
         “Tập san chăm sóc người mắc bệnh tiểu đường” (Diabetes Care) nghiên cứu chỉ ra rằng thông qua một cuộc khảo sát đối với 460 phụ nữ ở độ tuổi từ 50-64 sống đơn độc một mình, điều tra cho thấy xác suất số người mắc phải bệnh tiểu đường ở những phụ nữ này tăng 2,5 lần.

Bí quyết 10 : Đi bộ nhiều, ít ngồi xe lại
         Nghiên cứu Phần Lan cho biết mỗi ngày chỉ cần vận động 35 phút, tổng cộng khoảng 4 giờ một tuần, thì nguy cơ mắc bệnh tiểu đường có thể giảm tới 80%. Bình thường hãy đi lên lầu bằng cầu thang thay vì cố gắng đi bằng cầu thang máy. Bạn có thể đi bộ để tới đích chứ tuyệt đối không nên đi xe. Mỗi ngày sau bữa ăn nên đi bộ nhanh gần nhà mình.

Mẹo 11: Ăn ít thực phẩm chế biến
        Nghiên cứu cho thấy rằng nếu mỗi tuần ăn thịt jam bông hay xúc xích hơn 5 lần trở lên, sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường 43%, thủ phạm chính gây nên chính là chất phụ gia được thêm vào trong quá trình chế biến thức ăn.

Phòng chống bệnh tiểu đường ngay từ khi thai kỳ bắt đầu
       Các bà mẹ cần lưu ý rằng chế độ ăn uống của họ có thể nuôi dưỡng một thế hệ tiếp theo khỏe mạnh. Do đó chế độ ăn uống của người phụ nữ mang thai chủ yếu phải không có các chất phụ gia nhân tạo và hoàn toàn thiên nhiên, ít đường, ít mỡ, cố gắng duy trì chế độ cho con bú bằng sữa mẹ sau khi em bé được chào đời. Tập thói quen thể dục cho bé từ khi còn nhỏ để tiêu thụ lượng calo dư thừa. Trong khi đó , ăn các loại thực phẩm giàu năng lượng, lựa chọn các thành phần rau quả tươi, không để trẻ em trưởng thành bởi thói quen ăn thức ăn chiên, thức ăn nhanh và thói quen ăn uống xấu khác để tránh béo phì và cũng là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiểu đường.


                                                                               Bởi: Chu Văn, Dajiyuan